TRỞ LÊN ĐẦU TRANG

Dịch vụ tổ chức sự kiện - khi nào cần?

23:07 |
Khai trương là một trong những lý do tốt nhất để tổ chức sự kiện...mục đích của việc dịch vụ tổ chức sự kiện là gây sự chú ý cho sản phẩm của doanh nghiệp.
Ngày nay, việc to chuc su kien chuyen nghiep đã trở thành một trong những công cụ phổ biến nhất trong hoạt động tiếp thị. Cũng như những công cụ tiếp thị khác, mục đích của việc tổ chức sự kiện là gây sự chú ý cho sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp, tạo sự quan tâm hơn nữa từ khách hàng, từ đó giúp tăng doanh số bán của công ty.
Dịch vụ tổ chức sự kiện - khi nào cần?
Dịch vụ tổ chức sự kiện - khi nào cần?
Thực tế cho thấy, nhiều công ty lớn đã dám bỏ ra hàng triệu USD mỗi năm để tổ chức sự kiện và đã đạt được không ít thành công nhờ tăng được doanh số bán. Nhưng không phải lúc nào điều này cũng xảy ra. Để tổ chức sự kiện event thành công, bạn phải lựa chọn một thời điểm hoặc một lý do thích hợp. Ngoài ra, bạn cần phải lưu ý rằng, một sự kiện, dù lớn hay nhỏ, sẽ không có tác dụng nếu nó đứng một mình. Trong tiếp thị, bạn có thể sử dụng hình thức quảng cáo hay làm công tác đối ngoại (public relations - PR) mà không cần phải tổ chức một sự kiện. Nhưng để một sự kiện có tác dụng, bạn cần phải phối hợp cả quảng cáo và PR. Việc phối hợp ba công cụ này cũng khác nhau tuỳ theo mỗi loại event.
dịch vụ tổ chức sự kiện

* Khai trương
Khai trương là một trong những lý do tốt nhất để tổ chức sự kiện event. Để có tác dụng tốt, bạn phải làm cho sự kiện này mang một nét đặc trưng riêng, nói lên được ngành nghề và chuyển tải được thông điệp mà bạn muốn nhắn gửi đển khách hàng, đó là: ”Chúng tôi đã có mặt. Chúng tôi khác với các đối thủ cạnh tranh, chúng tôi tối hơn các đối thủ cạnh tranh và chúng tôi đang sẵn sàng phục vụ bạn”. Bạn phải làm cho khách hàng có ấn tượng mới lạ và tốt đẹp về buỗi lễ khai trương.Nên tránh đi vào lối mòn như nhất thiết phải có chạy thử máy (đối với việc khai trương nhà máy sản xuất), cắt băng khánh thành…Hãy nghĩ ra những cách làm sáng tạo. Chẳng hạn, nếu khai trương một cửa hàng bán đồ điện tử, bạn có thể dùng một bộ điều khiển từ xa để mở cửa vào giờ khai trương. Hay để cho buổi lễ khai trương thêm phần ấn tượng, bạn có thể thiết kế thiệp mời độc đáo, đăng tải tin trên báo chí, tổ chức các chương trình giải trí, biểu diễn, tặng quà cho những người đến dự. Ngoài ra, bạn cũng có thể nghĩ ra những cách để ghi nhớ và cảm ơn những khách hàng đầu tiên như gửi phiếu mua hàng miễn phí hoặc giảm giá, ghi lại tên và ngày sinh khách hàng để gửi thiệp chúc mừng sinh nhật.
* Giới thiệu sản phẩm mới.
Những buổi giới thiệu sản phẩm mới thường được đi kèm với các chương trình giải trí, biểu diễn. Tuy nhiên, bạn không nên để những chương trình này kéo dài quá mức và làm cho khách hàng sao lãng với mục đích chính của bạn là giới thiệu sản phẩm/dịch vụ. Nói một cách khác, những chương trình giải trí và biểu diễn chỉ là những “chất xúc tác” còn sản phẩm/dịch vụ của công ty bạn vẫn là phần “cốt lõi”. Ngoài ra, bạn cũng nên chú ý đến yếu tố không gian và thời gian khi tổ chức các buổi giới thiệu sản phẩm mới.
* Các kỳ nghỉ, các ngày lễ.
Những dịp lễ Giáng Sinh, năm mới hoặc khi hè về, thu sang, đông đến…đều là những dịp rất tốt để bạn to chuc event đặc biệt. Tuy nhiên, điều quan trọng là bạn phải xây dựng được những chương trình độc đáo nhưng không đi quá xa thông điệp mà bạn muốn gửi gắm đến khách hàng.
Sự xuất hiện của những người nổi tiếng.
Làm việc với những người nổi tiếng tuy khá phức tạp nhưng lại có tác dụng rất tốt đối với chương trình tiếp thị của bạn. Trước khi tiếp cận với các nhân vật nổi tiếng, điều quan trọng là cần phải nghiên cứu kỹ lịch trình làm việc và cá tính của họ xem có thích hợp với mục tiêu tiếp thị và hình ảnh của công ty bạn hay không. Nên đối xử với những người nổi tiếng theo một tác phong “chuyên nghiệp” và nên báo cho họ biết trước chương trình chi tiết. Khi mời những nhân vật nổi tiếng hợp tác, bạn cũng phải xác định xem đối tượng khách hàng mà bạn muốn thu hút là ai, bạn muốn đưa tin về sự kiện xuất hiện của các nhân vật này trên các phương tiện truyền thông nào và bạn muốn tạo ra ấn tượng lâu dài nào đối với khách hàng.
* Đồng tài trợ.
Để đạt được các mục tiêu tiếp thị của mình, bạn còn có thể tham gia tài trợ cho một sự kiện nào đó do các công ty khác tổ chức hoặc hợp tác với họ để tổ chức các chương trình từ thiện, chúc mừng sinh nhật của các doanh nghiệp khác, tài trợ cho các chương trình thi đấu thể thao, hội họp…Nhưng nên nhớ rằng, không phải chương trình nào cũng đều thích hợp cho tất cả các doanh nghiệp. Việc hợp tác tổ chức sự kiện phải tuỳ theo đặc điểm ngành nghề kinh doanh của công ty bạn và phù hợp với nhu cầu của khách hàng.
* Kỷ niệm thành lập.
Đây là một sự kiện đặc biệt mà hầu hết các doanh nghiệp đều có thể tổ chức. Có một thâm niên hoạt động trong một ngành nghề nào đó là một điều đáng để doanh nghiệp tự hào và bạn nên tận dụng cơ hội này để củng cố sự ủng hộ, lòng trung thành của những khách hàng trong quá khứ và hiện tại. Buổi tiệc “sinh nhật” cũng là dịp để bạn mời những khách hàng tiềm năng và xây dựng quan hệ với họ.
* Tổ chức các trò chơi và các cuộc thi.
Thực tế cho thấy, các trò chơi và các cuộc thi là những sự kiện gây được khá nhiều sự chú ý từ khách hàng. Tuy nhiên, những chương trình này chỉ có tác dụng tốt nếu nó được tổ chức và quản lý một cách hợp lý và nghiêm túc. Nghĩa là, bạn phải chứng minh được tính chuyên nghiệp trong việc tổ chức các trò chơi và các cuộc thi. Mọi người cần phải được thông báo, hướng dẫn rõ ràng về những thể lệ cuộc chơi như cách thức chọn lựa, đánh giá và trao giải thưởng. Và một điều quan trọng là nếu bạn đã hứa hẹn có những giải thưởng nào thi phải giữ đúng lời hứa.
Read more…

FA cầu mưa "trù úm" ngày Valentine của 9X xinh đẹp

20:08 |
Giọng ca online xinh đẹp Thái Tuyết Trâm cất tiếng hát an ủi những bạn trẻ đang cô đơn và còn lập đàn cầu mưa "trù úm" những "kẻ may mắn" được đi chơi Valentine với người yêu.


Ca khúc trong clip có tên Độc thân vui tính do Thái Tuyết Trâm thể hiện giúp bạn trẻ cô đơn ấm lòng giữa một ngày Valentine lạnh giá: "Vậy cớ sao ta cứ phải buồn phiền lo âu chi hãy quên đi. Sống cho hết tháng ngày mà ta đã đi qua hãy cứ hát ca. Vì ở trên đời này còn bao lâu mà cứ than trách làm gì. Hãy cứ giữ những nụ cười trên môi. Và tình yêu sẽ đến thôi. Nào cười lên nhé..."




Clip Độc thân vui tính là tâm sự của một cô nàng "FA" (cô đơn) từng có người yêu thương vào Valentine năm ngoái nhưng giờ đây, dẫu chỉ có một mình, cô nàng vẫn sống tươi vui.
Cô cất tiếng hát để an ủi, động viên những bạn trẻ đang cô đơn giống mình hãy vui tươi yêu đời. Ở đầu clip, cô nàng còn thực hiện một màn cầu mưa vào ngày Valentine theo đúng "mốt" của các FA hiện nay.
Thái Tuyết Trâm là giọng ca 9X nổi tiếng với nhiều bản cover acoustic được yêu thích trên mạng. Ngoài giọng ca, cô bạn còn có gương mặt xinh đẹp, có nhiều người hâm mộ. 
Read more…

DỊCH VỤ SỬA CHỮA MÁY LỌC NƯỚC

18:29 |
TRUNG TÂM SỬA CHỮA THÂN THIỆN HÀ NỘI giới thiệu dịch vụ SỬA CHỮA MÁY LỌC NƯỚC chuyên nghiệp.
Trung tâm sửa chữa máy lọc nước

Thưa quý khách hàng cùng toàn thể bạn đọc thân mến . Chắc hẳn ai cũng biết xã hội ngày càng phát triển , đời sống con người ngày càng nâng cao . Chính vì thế trong sinh hoạt gia đình hầu hết không thể thiếu các vật dụng điện tử điện lạnh hữu ích . Cái chúng tôi muốn nói đến ở đây là máy lọc nước , điều hòa , tủ lạnh , máy giặt ….

Sử dụng các vật dụng đó là một chuyện nhưng việc bảo quản và giữ gìn chúng ra sao lại là một chuyện . Đơn giản bởi ngay cả các kỹ sư của trung tâm chúng tôi cũng không thể đảm bảo chắc chắn được độ bền mãi mãi khi sử dụng máy lọc nước . Có rất nhiều yếu tố tác động đến độ bền của dòng sản phẩm này ví như sự cố chập điện , vị trí sử dụng , hay công việc vệ sinh ..

Thật sự là phiền toái khi vật dụng hữu ích máy lọc nước này lại gặp sự cố hư hỏng khi đang sử dụng . Việc đang sử dụng nguồn nước sạch đã trở nên quen thuộc nay lại bị trì trệ sẽ làm bạn rất khó chịu và lúc đó bạn sẽ cần đến sự trợ giúp của các trung tâm sua chua may loc nuoc , sửa chữa điện lạnh.

Nhưng bạn còn phân vân bởi bạn chưa có địa chỉ của các trung tâm sua chua may loc nuoc nào tin tưởng . Chúng tôi sẽ đáp ứng nhu cầu đó của bạn

TRUNG TÂM SỬA CHỮA THÂN THIỆN HÀ NỘI CHUYÊN SỬA CHỮA ĐIỆN LẠNH NÓI CHUNG VÀ SỬA MÁY LỌC NƯỚC NÓI RIÊNG

Nếu quý khách gặp một trong những sự cố dưới đây hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn miễn phí và khắc phục

+ Máy bơm chạy không ra nước.
+ Nước thải nhiều, nước tinh khiết ra yếu.
+ Máy chạy không êm, có tiếng kêu không bình thường.
+ Thay lõi lọc bị bẩn, quá hạn.
+ Dò gỉ nước, dò điện, hỏng máy bơm, van từ…

LƯU Ý:

+ Tất cả các thiết bị đều được sửa chữa tại nhà và bảo hành dài hạn.
+ Nhân viên kĩ thuật giàu kinh nghiệm, nhiệt tình.
+ Phục vụ 24/24, mọi lúc mọi nơi.
+ Tất cả các thiết bị đều được sửa chữa tại nhà và có bảo hành.
+ Phục vụ nhanh gọn, chuyên nghiệp.
Trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi và sử dụng dịch vụ.
Read more…

Phút bi tráng ở Pò Hèn, 17.2.1979

16:59 |
Ngọc Uyên
Theo Thế Giới Mới 
Đài tưởng niệm liệt sĩ Pò Hèn
NqL: Vì ưu tiên đăng chùm phóng sự của Đào Tuấn nên mình lùi bài này cho sáng nay. Cẩn thận không bao giờ thừa, mình đã coppy và lưu bài này đề phòng Thế giới mới sẽ bị lột bỏ. Quả nhiên đúng. Sáng nay vào Thế giới mới, vị trí bài này có mấy chữ: Lỗi 404: Không tìm thấy trang. Hu hu.

Đồn biên phòng Pò Hèn hay còn gọi là đồn 209 thuộc xã Hải Sơn, thành phố Móng Cái (Quảng Ninh) đã chứng kiến một trận chiến đấu bất khuất. Ở đó, đồn phó Đỗ Sỹ Họa và cô mậu dịch viên Hoàng Thị Hồng Chiêm cùng hầu hết những người lính đã hy sinh trong tư thế hiên ngang, không lùi bước.


Bị thương ngất đi, tỉnh lại tiếp tục chiến đấu

Nếu có một câu nói nào đó thể hiện được toàn bộ tinh thần chiến đấu của quân và dân các tỉnh biên giới những ngày chống quân Trung Quốc có lẽ câu nói của liệt sĩ, anh hùng Đỗ Sỹ Hoạ là câu nói tiêu biểu nhất: “Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết”.

Đứng ở đài tưởng niệm liệt sĩ Pò Hèn, xây trên nền của chính đồn công an vũ trang Pò Hèn năm 1979. Một buổi sáng mùa xuân, đứng bên đài tưởng niệm, câu nói ấy của liệt sĩ Hoạ chợt văng vẳng khiến chúng tôi không khỏi sởn da gà và cay mắt. Nghe đồng đội của anh kể lại thời khắc anh chiến đấu ngoan cường ngay cả khi đã bị thương rất nặng, tất cả chúng tôi đều không cầm được nước mắt.


Ông Hoàng Như Lý, hiện sống tại thành phố Móng Cái, một trong số rất ít những người lính Pò Hèn còn sống sót sau trận chiến rạng sáng 17.2.1979, còn nhớ như in từng vị trí của đồn cũ. 
Liệt sĩ, anh hùng Đỗ Sỹ Họa

Ông chỉ cho tôi đâu là khu nhà ăn nơi dính đạn pháo đầu tiên của địch, đâu là dãy nhà chỉ huy nhưng có một địa điểm ông Lý đặc biệt lưu ý và trầm ngâm hồi lâu: “Kia là đồi quế, nơi anh Họa hy sinh”.

Ngay đằng sau đài tượng niệm hiện nay là một quả đồi nho nhỏ, trông rất bình thường, không còn dấu tích gì của nơi từng diễn ra trận chiến tranh giành nhau từng tấc đất, nhưng 35 năm năm trước đó là nơi anh Họa đã chỉ huy và trực tiếp chiến đấu một trận bằng máu của mình.

“Tại đồi Quế, anh Họa bố trí đội hình đánh lại quân Trung Quốc khi đó đã chiếm được đồn. Phát hiện ra vị trí hỏa lực của ta, quân Trung Quốc nã pháo dồn dập vào đồi Quế, đồng đội chúng tôi hy sinh rất nhiều. Anh Họa cũng bị thương, mặt và người bê bết máu. Hỏa lực của địch mạnh hơn và cứ sau mỗi loạt pháo chúng lại bắc loa yêu cầu ta ra hàng nhưng anh Họa vẫn chỉ huy bắn trả”- ông Lý nhớ lại.

Chúng buộc phải dùng bộ binh với số lượng áp đảo xông lên để đánh giáp lá cà với quân ta và chiếm được đồi Quế. Đồn phó Đỗ Sỹ Họa cùng nhóm chiến sĩ của mình phải rút lui nhưng họ vẫn không đầu hàng mà lên ụ súng tổ chức lại lực lượng chiến đấu tiêu diệt 227 tên lính Trung Quốc, đến khi chiếm lại được đồi Quế.


Bị thương và mất máu quá nhiều anh Họa đã hy sinh nhưng khi trút hơi thở cuối cùng anh vẫn dặn đồng đội phải giữ vững trận địa. Ông Lý ngẹn lời: “Hình ảnh anh Họa bị thương ngất đi hai, ba lần liền nhưng cứ tỉnh lại là anh lại tiếp tục chiến đấu và chỉ huy rất dũng cảm”. Trong chiến tranh chống Mỹ ở Quảng Trị, anh Họa từng bị thương nhưng khi non sông thu về một mối dù quê ở Ân Thi (Hải Hưng) anh vẫn xung phong lên làm một người lính bảo vệ biên giới. 
Nữ dũng sĩ Pò Hèn

Có một bài hát viết về một người con gái cũng có mặt ở đồn Pò Hèn vào ngày 17.2 của 35 năm trước. Người con gái đó không thuộc biên chế của đồn Pò Hèn nhưng chị tình cờ có mặt ở Pò Hèn đúng ngày giặc nổ súng.

Hoàng Thị Hồng Chiêm vốn là cô nhân viên thương nghiệp của cửa hàng bách hóa Pò Hèn. Đêm trước hôm 17.2, chị Chiêm nhận lệnh của trên phải sơ tán cửa hàng vì quân Trung Quốc có thể đánh sang bất cứ lúc nào. Không ngờ ngay trong đêm sơ tán cửa hàng, chị Chiêm cùng anh Vượng, cửa hàng trưởng lại phải đối mặt với đạn pháo liên hồi.

Trong tay cô gái Hoàng Thị Hồng Chiêm khi đó chỉ có một khẩu CKC và hai quả lựu đạn nhưng người con gái quê ở Bình Ngọc dõng dạc khẳng định với anh Vượng, anh Thắng, chủ tịch xã và anh Đinh, y sĩ của xã: “Các anh cứ đi trước để em yểm trợ. Trước ở trung đoàn 8 làm đường Ba Chẽ em được huấn luyện để dùng súng và lựu đạn rồi”.

Và chị Chiêm đã yểm trợ để một số người trốn thoát sau đó một mình chạy về chốt chiến đấu của đồn công an vũ trang 209.

Ông Hoàng Như Lý kể lại: “Lúc ấy, chị Chiêm và anh Bùi Anh Lượng, một người lính của đồn 209 đang yêu nhau. Thời điểm Chiêm có mặt, các chiến sĩ trong đồn cũng đang chiến đấu ác liệt với quân Trung Quốc, anh em ban đầu khuyên chị lui về tuyến sau nhưng chị kiên quyết xin đồn phó Đỗ Sỹ Họa cho chị sát cánh bên bộ đội chiến đấu”.
Những người trong bức ảnh này đã hy sinh trong cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc 2.1979. Tên của họ được ghi trên bia tưởng niệm ở Pò Hèn.
Được đồn phó Đỗ Sỹ Họa giao nhiệm vụ tiếp đạn và băng bó cho thương binh nhưng cứ mỗi lần lên tiếp đạn là chị lại phụ anh em chiến đấu. Đến khi địch phải dùng đến pháo 130 ly nã điên cuồng vào đồi Quế mới khiến chị Chiêm bị thương.

Khi đồn phó Họa đã hy sinh, chị Chiêm gần như là người thủ lĩnh tinh thần của bộ đội. Chị trực tiếp cầm khẩu K54 của anh Họa bắn về phía quân địch khi máu đã ướt đẫm áo. Chị dính loạt đạn trung liên và ngã xuống khi vừa tròn 25 tuổi. Ở xã Bình Ngọc, thành phố Móng Cái, quê hương người nữ dũng sĩ anh hùng có một bức tượng Hoàng Thị Hồng Chiêm đặt ở sân trường trung học mang tên chị.
Nhạc sĩ Trần Minh một lần đến Pò Hèn nghe về câu chuyện của chị đã viết ca khúc Người con gái trên đỉnh Pò Hèn với những lời ca: “Từ biên giới này tỏa tiếp lời ca thắng lợi/ Hương hồi thơm bay tỏa lan trên vách núi/ Có cánh đào tươi đẹp trời xuân mới trên đỉnh núi Pò Hèn/ Hoàng Thị Hồng Chiêm, Hoàng Thị Hồng Chiêm người con gái ấy/ Đã vào trang sách, đã thành bài ca” .
Cách đây ít lâu chúng tôi đến thăm đồn Pò Hèn và có dịp “gặp” lại những người đã ngã xuống nơi đây ở gian phòng truyền thống. Ám ảnh chúng tôi không phải là khi thấy đồn biên phòng trước đây trở thành đài tưởng niệm liệt sĩ mà là bức ảnh có đầy đủ 45 liệt sĩ trong trận chiến năm ấy.
Ngọc Uyên 
Read more…

Chữ tín

14:59 |
Nguyễn Trung
Theo Viet- studies 
NQL: Bài viết rất hay!

Đại hội XII của Đảng Cộng Sản Việt Nam nên bắt đầu từ đi tìm chữ tín, làm tất cả mọi việc có thể để thực hiện chữ tín.

          Thiết nghĩ đây là điều quan trọng nhất, thách thức đến mức sống hay là chết, ĐCSVN lúc này nên làm, nhất là quá trình chuẩn bị đại hội XII đã bắt đầu.

          Sở dĩ đặt vấn đề như vậy là vì những lý do sau đây:


          Một là:

          Tuy chưa dám đụng tới bản chất của sự vật, nhưng tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng không dưới một lần đã phải nói trước toàn đảng và toàn dân tệ nạn quan liêu tham nhũng và sự tha hóa về phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ đảng viên đã tới mức đe dọa sự tồn vong của chế độ, làm cho lòng tin của nhân dân vào ĐCSVN giảm sút nghiêm trọng. Trong khi đó đất nước ngày càng nảy sinh nhiều vấn đề phải giải quyết vượt quá tầm năng lực của đảng. Tình trạng mất dân chủ và các thói hư tật xấu khác của tàn tích văn hóa phong kiến tiểu nông hầu như loại bỏ khả năng thay máu đổi mới đảng. Cái gọi là kiên định ý thức hệ xã hội chủ nghĩa một mặt là vũ khí bảo vệ quyền lực của đảng, nhưng đồng thời mặt khác là kẻ thù số một đối với mọi xu thế và nỗ lực trong đảng muốn đổi mới đảng[1]

Nhìn vào đời sống thực, phải nói từ gần một thập kỷ nay đất nước lâm vào một thời kỳ sa sút toàn diện và trầm trọng nhất chưa có lối thoát kể từ khi sự nghiệp độc lập – thống nhất của đất nước được hoàn thành ngày 30-04-1975. Đà phát triển năng động của đất nước bị chặn đứng; độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia phải đối phó với những uy hiếp mới. 

Nguyên nhân hàng đầu của thực trạng nói trên là: Sự tha hóa của ĐCSVN trong thời bình đã chọn việc bám giữ vai trò cầm quyền (thực ra là vai trò cai trị) của mình làm mục tiêu tối thượng, sẵn sàng dùng mọi biện pháp tệ hại có thể của quyền lực để thực hiện mục tiêu này. Lợi ích quốc gia và quyền làm chủ của nhân dân phải xếp xuống hàng thứ hai và chỉ được thực hiện khi tình thế bắt buộc và trong chừng mực bảo toàn được quyền lực của đảng.  

Nói cho rốt ráo, quyền lực của ĐCSVN hôm nay thực chất chỉ còn lại là quyền lực của những người, những nhóm nắm thực quyền trong đảng; nghĩa là chính bản thân ĐCSVN với tính cách là một tổ chức cũng bị quyền lực của những người và những nhóm có thực quyền này chi phối. Sự chi phối này thể hiện rõ nhất ở chỗ cương lĩnh, điều lệ và những nguyên tắc làm việc trong đảng thường xuyên bị vi phạm ở mọi cấp, nhất là sự vi phạm từ trên xuống; dân chủ trong đảng thực ra không tồn tại.  

Hệ quả đối với toàn đảng là kỷ cương không nghiêm, tính tiền phong chiến đấu của đảng từng bước bị loại bỏ, trên thực tế đến hôm nay đảng chỉ còn lại là một lực lượng chính trị mạnh áp đảo, đang nắm trọn trong tay vận mệnh đất nước. 

Hệ quả đối với toàn bộ đời sống đất nước là luật pháp bị chà đạp, nhiều giá trị đạo đức – xã hội bị băng hoại nghiêm trọng, có biết bao nhiêu quyết sách đúng thất bại, năng lượng phát triển của đất nước bị tiêu phí, hủy hoại.  

Hệ quả chung cuộc là để bù lại những yếu kém đang ngày càng đe dọa mình, ĐCSVN buộc phải tiếp tục “siết” hơn trong việc cầm quyền và đồng thời phải tiếp tục cho dối trá lộng hành để bảo toàn địa vị nắm quyền của đảng. Tình hình nguy hiểm đến mức độ ĐCSVN bây giờ có định làm việc gì tốt cũng khó thành công, định nói đúng nói thật điều gì dân cũng khó tin, không tin.  

Nhưng cho dù tăng “siết” và dối trá như thế, quyền lực của đảng vẫn cứ tiếp tục suy yếu. Dẫn tới đảng và dân ngày càng xa cách nhau hoặc đối nghịch nhau. Thậm chí ngay trong nội bộ đảng với nhau, chữ tín thường phải nhường bước trước sức mạnh của dối trá và quyền lực…  Chính cái vòng luẩn quẩn này đang làm mục ruỗng sức sống của ĐCSVN, khiến cho tha hóa trong đảng ngày càng ngự trị, với hệ quả cực kỳ nguy hiểm: đảng không giữ được chữ tín đối với dân, còn chữ tín trong dân dành cho đảng bị đánh cắp. Thực tế này đang làm sâu sắc thêm tình trạng đảng và dân phải đối phó lẫn nhau, và cứ thế ngày đêm gây thêm tai ương mới cho đất nước. 

          Đã đến lúc phải thừa nhận: Vì thiếu vắng chữ tín trong đời sống đất nước, chưa bao giờ ý chí của người dân và của người đảng viên ĐCSVN bị làm nhụt như hiện nay, lòng dân phân tán. Thử hỏi, đất nước như thế này làm sao đi lên được?
         
Hai là:

          Đất nước phải bước vào một cuộc chạy đua quyết liệt với nhiều thách thức mới ập đến từ mọi phía. Nhất là trong bối cảnh khu vực của chúng ta đang nóng lên những biến động bất thường – nóng bỏng nhất là cái “đường lưỡi bò”. Thế giới đang diễn ra một cuộc sắp xếp lực lượng mới…

Ngay trước mắt, chuyển đất nước ta đi vào một thời kỳ phát triển mới như thế nào, hiện nay chưa có lời giải, chưa được chuẩn bị về rất nhiều mặt. Trong khi đó giai đoạn phát triển đầu tiên của đất nước đã kết thúc, đặt ra cho đất nước nhiều vấn đề mới và khó, thậm chí cực khó. Lực lượng nắm quyền lãnh đạo đất nước biết, hoặc không biết thấu, không biết đủ, hoặc không có khả năng biết đúng nhiều vấn đề đang đặt ra cho đất nước. Quan trọng hơn thế là lãnh đạo đang giấu dân, hoặc không để dân biết toàn bộ hiện trạng của đất nước, giấu dân cả về những thách thức mới cũng như tình trạng bất cập của đảng và của chế độ chính trị. Thất bại và việc dùng đội ngũ dư luận viên che giấu sự thật chỉ càng tăng thêm hủy hoại lòng tin của nhân dân đối với đảng. Chữ tín của đảng đối với dân đã thiếu vắng lại càng thiếu vắng. 

Có thể lẩy ra một vài điểm để bàn thảo. 

Chỉ tính từ khi đổi mới, gần ba thập kỷ đã qua, nhưng đất nước còn đứng rất xa cái mốc trở thành một nước công nghiệp hóa, mặc dù mục tiêu này đã nhiều lần được các đại hội đảng điều chỉnh thấp đi (vận dụng cách nói co dãn) và kéo dài thời gian. Nghị quyết hiện hành nói năm 2020 cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhưng mục tiêu này có đạt được không? Nhất là chưa ai nói được đó sẽ là một Việt Nam công nghiệp như thế nào trong thị trường của thế giới toàn cầu hóa hôm nay?..  

Tính theo sức mua (PPP), GDP p.c. năm 2013 của ta bằng khoảng 1/3 của Thái Lan (3500 USD/10.000 USD). Giới chuyên môn đánh giá, cứ giữ cung cách làm ăn và chế độ quản lý đất nước như hiện nay, Việt Nam cần vài ba thập kỷ nữa mới đuổi kịp trình độ phát triển của Thái Lan bây giờ (hiện được coi là nước đang phát triển có thu nhập trung bình, nghĩa là chưa phải là một nước công nghiệp). 

Không ít nhà kinh tế trong nước và trên thế giới lo lắng Việt Nam làm sao thoát được cái bẫy thu nhập trung bình thấp, bởi vì khủng hoảng kinh tế trầm trong hiện nay tuy đang có triển vọng có thể thoát đáy, song nếu giỏi cũng phải vài ba năm nữa kinh tế Việt Nam mới phục hồi – bởi vì những u bướu không ít phần ác tính của nợ nần, của những ách tắc mang tính cơ cấu trong kinh tế, của vỡ bong bóng thị trường bất động sản, của thất thoát trong các tập đoàn kinh tế quốc doanh, của rối rắm trong hệ điều hành… nan giải lắm. Sau đó có tìm được đường đi lên hay không – đó sẽ là một câu chuyện khác và còn để ngỏ. Bởi vì đến giờ này vẫn chưa có chiến lược và mục tiêu sản phẩm, chưa có quy hoạch bài binh bố trận, chưa biết lấy đâu ra nguồn lực triển khai kết cấu hạ tầng cho giai đoạn phát triển mới… Lại càng không thể có một nước công nghiệp hóa trong một thể chế chính trị có bản chất không đáp ứng được sự vận động của nó… Nghĩa là, ngay từ bây giờ đã thấy không thể hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa vào năm 2020. Mà để chậm như thế một ngày, uy hiếp mọi mặt đối với đất nước sẽ lớn thêm một ngày. Song cho đến nay đảng tuyệt nhiên chưa có một lời cảnh báo nào về tình hình này để cả nước định liệu.

Thật đáng lo là hiện nay Việt Nam chưa chuẩn bị được bao nhiêu cho thời kỳ phát triển mới. Khái niệm chung chung “cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” không vạch ra được điều gì cụ thể về tư duy chiến lược. Trong khi đó mọi nguồn lực  - kể từ kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực có chất lượng, tiềm năng khoa học kỹ thuật và công nghệ, sự tích lũy của nội địa, chất lượng của thị trường, năng lực quản lý của nhà nước, khả năng thực thi của luật pháp, vân vân… - để đưa Việt Nam bước vào một thời kỳ phát triển mới đều vô cùng hạn hẹp, thậm chí thiếu nhiều thứ. Cho đến giờ phút này Việt Nam vẫn chưa có một chiến lược dưới dạng một chương trình hành động có tính ràng buộc pháp lý (cam kết bằng luật pháp của quốc hội, của nhà nước, được cụ thể hóa bằng quy hoạch, kế hoạch…) cho mục tiêu, cho con đường, cho lộ trình các bước đi của một thời kỳ phát triển mới. Hiển nhiên trí tuệ, tầm nhìn của ý thức hệ cũng như tư tưởng nhiệm kỳ không cho phép đảng làm việc này.  

Xin lưu ý, cùng một xuất phát điểm gần giống nhau, Hàn Quốc đã hoàn thành công nghiệp hóa trong khoảng 3 thập kỷ (1960 – 1990), với một nguồn lực trong nước và thu hút được từ bên ngoài chỉ bằng ½ khối lượng Việt Nam có được từ đổi mới đến nay (1986 - 2014)! Trong khi đó, đến hôm nay Việt Nam vẫn chưa giải quyết xong vấn đề nông nghiệp của một quốc gia công nghiệp hóa, để vừa có một nền nông nghiệp hiện đại theo đúng đòi hỏi của một nước công nghiệp, vừa có một tỷ trọng là khoảng ¼ hay 1/5 lao động xã hội làm việc trong nông nghiệp (tỷ trọng này của Hàn Quốc 1990 khoảng 12%, hiện nay khoảng 6%). Trớ trêu hơn nữa, hiện nay đang cùng một lúc xảy ra hiện tượng nông dân ta không đủ ruộng làm, nhưng diện tích nông dân trong cả nước bỏ ruộng hoang lên đến nhiều vạn hecta – chỉ vì làm nông nghiệp như hiện nay không sống được (bỏ ruộng vì biến đổi của môi trường tự nhiên không tính). Luật pháp và các chính sách hiện hành hầu như bất lực trước thực trạng này, cũng không thể hỗ trợ quá trình tích tụ ruộng đất để đi lên sản xuất lớn và hiện đại. Nông dân nhiều nơi đành tự lo, tự phá rào, luật pháp chứa chấp thêm những bất thiêng mới, kinh tế xuất hiện những rủi ro mới... 

Cho đến hôm nay và trong vòng một, hai thập kỷ tới, chưa làm sao xác định được công nghiệp Việt Nam sẽ nằm trong chuỗi cung / ứng nào, chiếm lĩnh sản phẩm nào, thị phần nào trong nền kinh tế toàn cầu hóa… Chẳng lẽ vẫn cứ dệt may là chủ lực? Rồi đây sẽ vươn lên đến xuất khẩu hộ thép và sản phẩm lọc dầu được nước ngoài đưa vào sản xuất trên đất nước ta? – nghĩa là tiếp thu một nền công nghiệp bẩn, biến đất nước ta thành đất nước cho thuê đất đai và môi trường, dân ta trở thành người đi làm thuê bằng lao động cơ bắp là chủ yếu!.. Chưa nói đến, hiện nay nếu không giải quyết thành công hàng năm đưa hàng chục vạn người đi lao đông ở nước ngoài thì không thể giải quyết được vấn đề thất nghiệp và vấn đề xóa đói giảm nghèo. Rồi hàng vạn phụ nữ Việt Nam phải đi lấy chồng nước ngoài chỉ vì lý do kinh tế!.. Vân vân và vân vân.

Nước ta có tứ trụ của hệ thống chính trị là tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng và chủ tịch quốc hội. Một điểm nổi bật là tất cả những vị lãnh đạo này khi đăng đàn tại các địa phương, các bộ, ngành.., đều chỉ thị và chỉ đạo công việc rất sát sao: nêu câu hỏi cho kinh tế phải nuôi con gì, trồng cây gì, đặt vấn đề phải phát triển sản phẩm gì, phải phấn đấu xây dựng nông thôn mới ra sao, phải thi đua học tập tấm gương và đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải xây dựng đảng vững mạnh, phải phát huy quyền làm chủ của dân… Không thể không đặt ra nhiều câu hỏi: Nếu chỉ thị và chỉ đạo giống nhau như vậy có phải là nhiệm vụ giống nhau của cả tứ trụ không? Nếu làm một việc giống nhau như thế liệu có cần cả 4 người không? Làm việc như thế, nhiệm vụ được phân công riêng cho từng vị sẽ như thế nào? V… v... Chỉ một ví dụ nhỏ này đủ phản ảnh sự rối rắm, chồng chéo và chồng lấn lên nhau với nhiều hệ lụy rất tệ hại của hệ thống chính trị quốc gia: đảng, nhà nước (?), quốc hội và chính phủ. Hàng ngày đất nước có muôn vàn ví dụ rối rắm chồng chéo nhau như thế. Mọi đề nghị cải cách thể chế chính trị - nhất là vào dịp sửa đổi hiến pháp - để khắc phục sự rối rắm này đều bị bác bỏ - với giải thích: Đấy là cách thực hiện sự thống nhất quyền lực của hệ thống chính trị và của nhà nước dưới sư lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của ĐCSVN. Vân vân… 

Ba là: 

Vốn quý nhất của nước ta là con người và vị trí địa kinh tế - địa chiến lược của Việt Nam. Nhiều nước mơ có được lợi thế này. Nhưng nền giáo dục và thể chế chính trị hiện hành là những nguyên nhân hàng đầu cản trở phát huy lợi thế chiến lược này, thậm chí còn gây ra nhiều hậu quả lớn cho đất nước.  

Song nguyên nhân cơ bản nhất hủy hoại lợi thế nói trên và dẫn đến sự yếu kém mọi mặt của đất nước hôm nay là sau khi hoàn thành sự nghiệp độc lập thống nhất đất nước, ĐCSVN với tính cách là lực lượng lãnh đạo duy nhất, đã không đặt ra cho mình nhiệm vụ chiến lược hàng đầu là xây dựng bằng được quyền làm chủ đất nước của nhân dân trong một thể chế chính trị của nhà nước pháp quyền dân chủ, không giúp cho nhân dân tự trau giồi và trang bị cho chính mình quyền năng thực thi quyền làm chủ đất nước của mình. Khỏi phải bàn, cổ nhân đã nói: Dân là chủ nhân mạnh, thì sẽ “thuê” được sự lãnh đạo mạnh của đảng và sự quản lý giỏi của nhà nước; và như thế đảng sẽ mạnh, nhà cũng nước cũng sẽ mạnh, đất nước sẽ hùng mạnh. Cổ nhân cũng nói tiếp: để dân là chủ không ra chủ, để tớ không ra công bộc của dân, thì đất nước lụn bại. Những điều hiển nhiên này đâu có gì xa lạ?!

 Song rõ ràng ĐCSVN kể từ 30-04-1975 cho đến hôm nay vẫn không coi thực hiện nhiệm vụ này là tiền đề đầu tiên mang tính quyết định tất cả và mãi mãicho toàn bộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc của một nước Việt Nam độc lập thống nhất. 

 Không thể đổ lỗi cho nhân dân ta lạc hậu, cho hoàn cảnh quốc tế khắc nghiệt… để thanh minh, để biện hộ…

 Đúng ra phải nói: Chính vì xuất phát điểm của nước ta lạc hậu, chính vì bối cảnh quốc tế rất khắc nghiệt, nên sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc kể từ khi giành được độc lập thống nhất nhất thiết phải bắt đầu từ thực hiện bằng được nhiệm vụ chiến lược nêu trên. Bởi vì chỉ một đất nước do nhân dân thực sự làm chủ như thế mới có thể sẽ có tất cả, mới có thể thắng được tất cả mọi thách thức bất kể từ đâu tới. Lãnh đạo là thực hiện sứ mệnh tạo ra cho dân và cho đất nước một sức sống như thế của quốc gia, chứ không phải là ngồi lên dân.

Nhưng từ sau 30-04-1975 cho đến hôm nay ĐCSVN đã và đang có sự lựa chọn khác – mặc dù đảng ghi trên lá cờ của mình: Tất cả vì đất nước, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân. 

Nhìn lại, cũng phải nói: Gần 4 thập kỷ đã tiêu phí, và nguồn lực mọi mặt có thể huy động được của đất nước, của truyền thống kiên cường sáng tạo Việt Nam, của trí tuệ văn minh thế giới ngày nay, của bối cảnh toàn cầu hóa… thực ra đã hoàn toàn cho phép ĐCSVN đủ sức hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ sống còn bậc nhất này, nếu đảng coi đấy là sự lựa chọn của mình.  

Nhưng, như đã nói, ĐCSVN đã không lựa chọn như vậy, do đó đã dẫn đến thực trạng đất nước hôm nay. Chính đây là sự thất hứa nghiêm trọng nhất đối với những gì đảng đã cam kết với dân tộc, với đất nước

Sự thất hứa nêu trên đồng thời cũng là thất bại nghiêm trọng nhất của đảng trong toàn bộ lịch sử đấu tranh của mình kể từ khi thành lập, là thắng lợi đáng khiếp sợ nhất của tha hóa trong đảng. Sự thất hứa này còn là nhân tố hàng đầu đang hủy hoại phẩm chất và truyền thống cách mạng của đảng. Sự tha hóa này tạo ra ngay trong đảng kẻ thù không đội trời chung đang nhăm nhăm biến chất và tiêu hủy đảng. 

Bốn là: Phải bắt đầu lại từ chữ tín
Trí tuệ của văn minh nhân loại và bối cảnh thế giới toàn cầu hóa ngày nay trong thời đại tin học hoàn toàn cho phép sự khởi nghiệp của các quốc gia đi saunhư nước ta thành công. 

Bí quyết thành công của quốc gia khởi nghiệp đã được trí tuệ của nhân loại đúc kết, đó là thực hiện nghiêm túc các tiêu chí:  (a)quyền sở hữu tư nhân, (b) quyền tự do cá nhân trong khuôn khổ một thể chế chính trị dân chủ, (c) trí tuệ giữ vai trò ưu tiên để trở thành động lực của phát triển. Bí quyết thành công của quốc gia khởi nghiệp còn nằm trong quá trình hoàn thiện và phát triển không ngừng kinh tế thị trường – nhà nước pháp quyền – xã hội dân sự… … Trong thế giới hôm nay, những bí quyết này chẳng còn gì là bí mật, là hoang tưởng, chẳng có gì phải mò mẫm, phải đoán già đoán non như thời đại Nguyễn Trường Tộ, mà đang là hiện thực ngoạn mục của hàng chục nước đi sau ở mọi châu lục. Cũng thực tiễn đáng học hỏi này của các nước đi sau đang khẳng định một thực tế như một nguyên lý: Những bí quyết nêu trên chỉ có thể vận dụng thành công trong một quốc gia lựa chọn con đường phát triển hòa bình của cải cách thường xuyên và triệt để, bắt đầu từ giáo dục… 

Nhưng ĐCSVN đã để mọi việc phải làm trễ mất gần 4 thập kỷ rồi, sự tha hóa đã chiếm được thế thượng phong trong đảng rồi, làm thế nào bây giờ? 

Trả lời:  Vẫn còn kịp, nếu ĐCSVN bắt đầu lại từ chữ tín. 

Trên đời này không thiếu gì một con người thất bại hay một quốc gia đổ vỡ đã lập lại cuộc đời hay khởi nghiệp lại bằng cách bắt đầu từ chữ tín. Cũng không thiếu gì kinh nghiệm sống ở khắp thế gian này: Giữ được chữ tín sẽ làm nên tất cả. 

Còn quan trọng hơn thế, nhân dân ta đủ kinh nghiệm xương máu đã trải qua, đủ hiểu biết những gì đang phải chịu đựng trong chế độ chính trị hiện tại, đồng thời cũng đủ nghị lực, bản lĩnh và sự bao dung để lựa chọn con đường cải cách hòa bình và hòa giải, không mong muốn gì hơn con đường cải cách trong hòa bình, trong hòa giải.  

Tối ưu nhất đối với đất nước trong tình hình hiện nay chính là ĐCSVN – với tính cách là lực lượng chính trị mạnh áp đảo – tự đứng lên cởi trói cho bản thân mình, và đồng thời vận động toàn dân khai phá con đường cải cách này. Có đủ căn cứ để nói: Cho đến giờ phút này, nhân dân vẫn sẽ hoan nghênh, vẫn sẽ chấp nhận sự lựa chọn này của đảng. Vâng, cho đến giờ phút này. Bởi vì đấy là con đường ngăn chặn tái diễn thảm cảnh nồi da xáo thịt, là con đường sống của cả đất nước, cả dân tộc. Có thể dám chắc nhiều đảng viên chân chính có hiểu biết thấy rõ được thực trạng của đảng và của đất nước, tán thành con đường cải cách. Nhiều người trong số họ đã công khai có những ý kiến tâm huyết và trí tuệ về giải pháp, về cách tiếp cận con đường cải cách.  

Có thể khẳng định trong nhân dân và trong đảng có đủ trí tuệ và năng lực cho một cuộc cải cách vỹ đại rất xứng đáng với tầm vóc của đất nước. Chất xám của thế giới có thể huy động được cho sự nghiệp cải cách vỹ đại này không thiếu. Cả thế giới tiến bộ chắc chắn hậu thuẫn nỗ lực này của đất nước ta.

Để có được con đường cải cách như thế, ĐCSVN hãy bắt đầu từ thực hiện chữ tín với nhau trong đảng, và đồng thời thực hiện chữ tín của đảng đối với dân. 

Việc đảng thực hiện chữ tín của mình đối với dân hãy bắt đầu từ việc đảng thực hiện nói thật, nói đi đôi với làm, từ việc đảng để cho dân nói và chịu nghe dân nói, đồng thời thực hiện công khai minh bạch để tất cả cùng nhau xác nhận chữ tín.

Bắt đầu các khâu chuẩn bị từ hôm nay, có còn cách nào tốt hơn để xúc tiến đại hội XII không?  
Nếu ĐCSVN không tìm cách bắt đầu lại từ chữ tín, đại hội XII chắc chắn sẽ không thể đi quá được cái vạch đã định sẵn từ các đại hội trước: Cuối cùng sẽ chỉ thực sự làm được mỗi một việc là quyết định ai ở ai đi trong “ê-kíp” lái tầu mới mà thôi, còn con tầu đảng vẫn lao tiếp trên con đường đang đi, với quy luật muôn đời là: đường nào đích nấy, nhân nào quả ấy. 

Nếu quyết không phản bội lại truyền thống cách mạng của chính mình, không phản bội lại hy sinh của dân tộc, ĐCSVN hoàn toàn có đủ điều kiện bắt đầu lại từ chữ tín./. 

Hà Nội, ngày 12-02-2014
 ..........................................
Tài liệu tham khảo

Nguyễn Trung, “Chữ tín”, bài viết cho tạp chí Văn hóa Phật giáo – TPHCM, số mùa Thu năm 2012: nguyentrung-vt.blogspot.com– nhãn AAA nhật ký.

 


[1] Trên thực tế từ sau 30-04-1975 (trước đó không tính), thiết nghĩ nước ta cũng không thoát khỏi hiện tượng phổ cập nhiều nơi trong lịch sử thế giới là “cách mạng thường ăn thịt những đứa con của mình”.


Read more…

Liệu Việt Nam có làm lễ kỷ niệm cuộc chiến biên giới 1979?

14:48 |
Việt Hà
Theo RFA 
Ảnh bên:Các mũi tấn công của quân đội Trung Quốc trong chiến tranh biên giới 1979- RFA files photos

Ngày 17 tháng 2 năm 1979, Trung Quốc đưa quân ồ ạt tiến đánh biên giới Việt Nam. Cuộc chiến biên giới kéo dài chỉ trong một tháng trời đã để lại những tổn thất nặng nề cho người dân Việt Nam.
Từ nhiều năm nay, cuộc chiến này đã không được nói đến nhiều một cách chính thức ở Việt Nam. Tuy nhiên, một chuyên gia nước ngoài cho biết ông đã được mời đến Việt nam để trả lời phỏng vấn một kênh truyền hinh của nhà nước Việt nam về cuộc chiến này? Liệu đây có  phải là dấu hiệu của việc chính phủ Việt Nam sẽ  kỷ niệm cuộc chiến này trong tương lai? Việt Hà phỏng vấn giáo sư Carl Thayer, thuộc học viện quốc phòng Úc, người được mời vào Việt nam nói chuyện nhân dịp này. Trước hết Giáo sư Carl Thayer nói về cuộc chiến biên giới làm thay đổi quan hệ hai nước Việt nam Trung Quốc như sau:

GS.Carl Thayer: quan hệ Việt Nam Trung Quốc đã đi từ cái gọi là môi liền răng sang kẻ thù và Việt Nam gọi Trung Quốc lúc đó như là kẻ thù trực tiếp nguy hiểm nhất với người dân. Quan hệ ngoại giao hai nước đã bị phá vỡ từ 1979 cho đến tận năm 1991, tức là hơn một thập kỷ quan hệ căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Việt Hà: Quan hệ hai nước bây giờ đã được cải thiện rất nhiều, nhưng theo ông những ảnh hưởng nào của cuộc chiến vẫn còn tồn tại đến bây giờ trong quan hệ Việt Trung?

 GS. Carl Thayer: thực tế về cuộc chiến tranh này đã được cắt bỏ khỏi sách lịch sử và khỏi những lễ kỷ niệm phổ biến ở Việt Nam cho đến tận năm nay. Tôi không nghĩ là bởi vì các lãnh đạo Việt Nam muốn giảm nhẹ một thời kỳ quan hệ của Việt Nam. Bạn có thể tìm đến viện bảo tàng chiến tranh và không thấy có một trưng bày nào về cuộc chiến này với Trung Quốc. Nó là một lỗ đen. Nhưng tất nhiên với hàng ngàn người dân Việt Nam đã mất người thân trong cuộc chiến thì cuộc chiến này đã tồn tại. Cả hai phía sau cuộc chiến đã học được cách phải tôn trọng nhau.

Ảnh bên:Giáo sư Carl Thayer thuộc học viện quốc phòng Úc trong một lần đến thăm đài RFA.

Việt Nam hiểu là Trung Quốc có thể thực hiện lời nói của mình khi họ nói là họ sẽ dạy cho Việt Nam một bài học nhưng họ cũng đã không thành công lắm. Còn Trung Quốc hiểu được là Việt Nam đã giữ vững thế của mình và chỉ cho Trung Quốc vào lúc đó thấy là một quân đội dựa vào chiến tranh nhân dân không thể đánh trong một cuộc chiến trong điều kiện hiện đại. Đó đã là một bế tắc lớn nhưng chủ yếu là do Trung Quốc đã đưa ra một quyết định chiến lược là sau khi tấn công Việt Nam thì sẽ rút lui thay vì ở lại.

Việt Hà: theo ông thì yếu tố nào bây giờ có thể làm cho quan hệ hai nước trở nên xấu đi?

GS. Carl Thayer: vào năm ngoái ông Trương Tấn Sang thăm Trung Quốc, gặp Chủ tịch Tập Cận Bình và sau đó là chuyến thăm của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đến Việt Nam vào cuối năm. Hai bên đồng ý cam kết tăng cường các hoạt động hợp tác mặc dù chúng ta phải cẩn thận vì đó là những biểu tượng và có những hạn chế nhiều hơn là mục đích chính trị. Việc mở rộng việc hợp tác phát triển tại khu vực vịnh Bắc bộ là một ví dụ và đặt nhấn mạnh trong việc giải quyết hòa bình các vấn đề ít nhậy cảm trên biển.

 Cả Trung Quốc và Việt Nam đã đồng ý, từ năm 2010 khi một đặc phái viên của Việt Nam được gửi sang Trung Quốc, là định hướng dư luận, nói theo cách nói của họ. Lãnh đạo của cả hai nước lúc này có khó khăn với chủ nghĩa dân tộc trong nước. Và chủ nghĩa dân tộc trong nước là một lực lượng khó, vì nó đòi hỏi lãnh đạo của quốc gia phải nhìn nhận chiến tranh với phía mà họ cho là kẻ thù, trong khi một quốc gia cẩn trọng thì rút lui.

Ở Việt Nam thì một mặt là những nhu cầu lớn dần trong nước đòi có tưởng nhớ những người hy sinh trong hải chiến Hoàng Sa, nhưng đó là một vấn đề tế nhị vì lúc đó là thuộc Việt Nam cộng hòa. Tương tự là với cuộc chiến biên giới vì nó làm căng thêm nhìn nhận của người dân Việt Nam với Trung Quốc. Nhưng tôi nghĩ cũng có điểm tích cực ở đây, như với việc Việt nam và Mỹ có thể vượt qua những hậu quả của chiến tranh, dù vẫn còn những điều tồn tại, và đó cũng có thể là giữa Việt nam và Trung Quốc.

Ảnh bên:Tù binh Việt Nam trong cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung năm 1979. Files photos

 Theo tôi yếu tố có thể khiến quan hệ hai nước xấu đi là khi Trung Quốc tìm cách lấn chiếm Việt nam với quy định về đánh bắt cá ở đảo Hải Nam hoặc áp dụng vùng nhận dạng phòng không vì hai năm trước Việt Nam đã tuyên bố là sẽ thực hiện các chuyến bay tuần tra thường xuyên và cho máy bay Sukhoi bay trên Trường Sa. Cho nên hành động này từ Trung Quốc có thể làm xấu đi quan hệ hai nước. Lập trường của Việt nam là không bao giờ làm Trung Quốc tức giận hoặc cho họ cơ hội  lấy cớ làm gì. Trong trường hợp này là việc kỷ niệm cuộc chiến biên giới, tôi tự hỏi là trong tương lai điểm sáng có thể là các cựu chiến binh hai phía có thể gặp nhau và tưởng nhớ về những người đã ngã xuống.

 Việt Hà: ông được mời đến Việt Nam để trả lời truyền hình Việt Nam dịp này về cuộc chiến biên giới, theo ông tại sao họ lại làm vậy, ông trông đợi gì cho cuộc phỏng vấn này?

GS. Carl Thayer: tôi không có nhiều thông tin ngoài việc biết là mình được mời nhưng tôi nghĩ nó cũng theo cách cũ là lãnh đạo cho phép người nước ngoài vào để nói về vấn đề nhạy cảm thay vì chính họ tự nói để thăm dò ý kiến. Họ để người nước ngoài nói chuyện để xem họ nghĩ gì về cuộc chiến, hay nói cách khác là chuẩn bị cơ sở cho nó. Nhưng mà tôi cũng nhận được giấy mời đến Việt nam vào tháng năm để kỷ niệm trận chiến Điện Biên Phủ, trong khi quan hệ Việt Pháp rất tốt và cuộc chiến thì đã lùi xa vào quá khứ. Nhưng người ta cũng có thể coi đây là một nỗ lực xây dựng tinh thần yêu nước làm hỗ trợ cho đảng cộng sản.

Tôi không nghĩ là họ sẽ khuấy động chủ nghĩa dân tộc nhưng đó là các bài báo phê phán Trung Quốc ở biển Đông, trong cuộc chiến Hoàng Sa hay cuộc chiến biên giới. Vấn đề về tính chính thống của Đảng Cộng sản là họ nói họ với tinh thần yêu nước dẫn dắt đất nước chống lại xâm lăng nước ngoài. Vậy nếu họ nói họ đã làm như vậy thì tại sao họ lại không nhìn nhận những người đã hy sinh. Họ đã bị tụt hậu bởi chủ nghĩa dân tộc, lòng yêu nước. Tôi nghĩ họ muốn kiểm soát điều này bằng cách sắp xếp lễ kỷ niệm của nhà nước. Theo tôi họ đang cố gắng tìm được một chỗ trung gian được chấp nhận bởi tất cả các bên.

Việt Hà: Xin cảm ơn ông đã dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn này

Read more…

Cải cách thể chế kinh tế, vĩ mô hay vi mô?- Phần 1

14:31 |
TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLBĐ
Theo Tia Sáng 

*Phần I Những tiền đề

Cải cách thể chế kinh tế là một khái niệm kinh tế chính trị học liên quan đến sự vận hành  của nhà nước đối với mọi nền kinh tế sản xuất hàng hoá, không phải bây giờ mới xuất hiện; nhưng ở ta đặt ra ngày càng bức bách, thu hút cả nước sôi sục quan tâm, bởi nền kinh tế đang phải đối mặt với bao nguy cơ bất ổn đe doạ, kèm vô số hệ lụy lên mọi mặt đời sống, xã hội, đạo dức, văn hoá, y tế, giáo dục…vốn cũng chỉ có thể giải quyết được trên nền tảng kinh tế; đúng như Mác đã nói,
một khi thực tế không thể giải quyết thì phải quay trở lại xem xét những nguyên lý đã đẻ ra nó, mà mấu chốt hiện nay được hầu hết giới học giả, chính khách thừa nhận chính là vấn đề thể chế.

1.1- Mô hình kinh tế

 Nói đến thể chế kinh tế không thể không bắt đầu từ 2 mô hình kinh tế cơ bản được khoa học kinh tế phân loại thành “kinh tế thị trường” theo đuổi mục đích lợi nhuận và đối lập với nó  là “kinh tế quản lý tập trung” hay “chỉ huy” nhằm hoàn thành kế hoạch nhà nước đặc trưng ở các nước khối xã hội chủ nghĩa. (Để tránh “kị húy” hoặc ngộ nhận tưởng có mối quan hệ một một giữa 4 khái niệm “kinh tế chỉ huy”, “chủ nghĩa xã hội”, “doanh nghiệp nhà nước”, “đảng cộng sản”, cần biết rằng, nền kinh tế chỉ huy không chỉ ở các nước xã hội chủ nghĩa mà ở không ít nước, đặc biệt như Liby dưới thời Gaddafi thậm chí chỉ ở 1 tiểu bang như Ấn Độ. Cũng không phải cứ đảng cộng sản tham chính hay chấp chính là nền kinh tế mang mô hình quản lý tập trung, bởi thế giới hiện đại hầu như nước nào cũng có đảng cộng sản, hoặc tham chính hoặc chấp chính tại nhiều quốc gia; ngay cả những nước đứng đầu như Đức, Đảng Cộng sản tham gia chính phủ 2 tiểu bang. Doanh nghiệp nhà nước cũng vậy không phải đặc trưng riêng có của chủ nghĩa xã hội mà có ở mọi quốc gia). Để đạt mục đích nói trên, nền kinh tế thị trường có dấu hiệu đặc trưng sở hữu tư nhân, tự do kinh doanh, phân phối theo lợi nhuận (thị trường chỉ là khái niệm khoa học chỉ hoạt động tự do mua bán hiểu theo nghĩa chuyển quyền sở hữu từ chủ sở hữu này sang chủ sở hữu khác); ngược lại nền kinh tế quản lý tập trung dựa trên nền tảng công hữu tư liệu sản xuất (các doanh nghiệp cũng mua bán nhưng không thay đổi chủ sở hữu vẫn là nhà nước, nên không gọi là thị trường), do nhà nước trực tiếp điều hành theo kế hoạch từ trên xuống, phân phối theo lao động. Liên xô và CHDC Đức trước thời điểm sụp đổ là 2 quốc gia đã hoàn thành qúa độ lên xã hội chủ nghĩa và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội phát triển (“điều mà ở nước ta hết thể kỷ này chưa biết đạt được hay không”), đều thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu trên. Bên cạnh đó còn mô hình kinh tế biến thể từ 2 mô hình cơ bản, cũng dựa trên công hữu tư liệu sản xuất nhưng doanh nghiệp tự chủ, áp dụng ở Nam Tư cũ (lúc đó được gọi là “chủ nghĩa xét lại”). Từ thập niên 90 xuất hiện thêm mô hình biến thể, kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc hay định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Sự xuất hiện các biến thể đó là do 2 mô hình kinh tế cơ bản trên chỉ mới là điều kiện cần, con người chọn lựa  hay không, hay tìm tòi những mô hình khoa học mới là do lợi ích nó mang lại cho con người quyết định, tức điều kiện đủ. Lợi ích kinh tế trước hết nằm ở hiệu quả, được Mác khái quát, năng suất lao động là thước đo tính ưu việt của hình thái kinh tế xã hội này đối với hình thái kinh tế xã hội khác. Còn theo Đặng Tiểu Bình, mèo trắng hay mèo đen đều được, miễn bắt được chuột; có nghĩa mô hình chỉ là phương tiện phục vụ cho lợi ích con người chứ không phải ngược lại. Vậy, không lý do gì, như CHDC Đức cứ phải bảo thủ  mô hình kinh tế chỉ huy, khi cùng một điểm xuất phát sau 40 năm áp dụng tụt hậu so với CHLB Đức ước tới nửa thế kỷ, tức cứ mỗi năm ra sức xây dựng nền kinh tể chỉ huy, thì tụt hậu thêm1 năm so với nền kinh tế thị trường, hệ lụy tới mức tại thời điểm hiện nay, người ta dự báo phải 20 năm nữa mới vực được Đông Đức ngang hoàn toàn Tây Đức mặc dù nhà nước, và từng người dân phải đóng góp cho các tiểu bang Đông Đức  phí đoàn kết trích trên lương tháng, tổng cộng mỗi năm lên tới hàng mấy chục tỷ Euro (ở đây không dề cập tới yếu tố chính trị bởi Đảng Cộng sản Đức vẫn tham chính cấp liên bang và cùng chấp chính ở 2 tiểu bang). Việt Nam và Trung Quốc buộc phải chuyển dổi mô hình cũng không ngoài lý do lợi ích.

Nhưng mô hình kinh tế nào cũng gắn với chính thể quốc gia đó vốn quyết định phân phối lại thu nhập quốc dân. Chính vì thế, như ở Đức, được bao hàm trong khái niệm hiến định “chính thể Đức là một nhà nước liên bang dân chủ, xã hội”, nền kinh tế Đức đương nhiên mang nội hàm mặc định “nền kinh tế thị trường, xã hội” hiểu theo nghĩa vừa bảo đảm cho bất cứ ai cũng có cơ hội kinh doanh trở thành “tỷ phú”; nhưng vừa bảo đảm tài lực cho an sinh và phúc lợi toàn dân; bất cứ ai kể cả người nước ngoài được quyền sinh sống ở Đức sinh con đều có lương con; thai nghén, chửa đẻ, chăm con nhỏ được nghỉ việc hưởng trợ cấp; thất nghiệp; ốm đau, tai nạn nghề nghiệp, về hưu có bảo hiểm trả; bất kỳ người dân nào không có hoặc kém thu nhập đều được nhà nước bảo đảm đời sống cơ bản (nghĩa là mức bình thường) về ăn, ở, nuôi dạy con cái, học hành, đi lại, chữa bệnh.., nếu không sẽ bị họ kiện ra toà chế tài nhà nước phải thực hiện. Đó cũng chính là giá trị sử dụng của Hiến pháp họ vốn không đóng vai trò một bản tuyên ngôn, nghị quyết để phấn đấu, mà là một chế tài đối với nhà nước buộc phải thực hiện lập tức những gì đã hiến định từ thời điểm có hiệu lực. Vì vậy, ở Đức không ai không có chỗ ở, bị bỏ đói rách thiếu thốn, ốm đau, thất học, thiếu điện nước, lò sưởi, phương tiện đi lại cần thiết…, ngoại trừ chính họ dùng tiền trợ cấp đó vào mục đích khác như rượu chè, cờ bạc, đĩ điếm, xì ke, ma túy…

Còn nước ta hiện đã hiến định mô hình “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa“. Cải cách thể chế kinh tế ở ta vì vậy chính là tạo lập hành lang pháp lý bảo đảm cho nền kinh tế vận hành theo đúng mô hình cơ bản của “nền kinh tế thị trường” (vốn là một khái niệm phổ quát dù tính chất gì); trên nền tảng đó bảo đảm mục đích tốt đẹp “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” cũng chính là nội hàm của khái niệm “định hướng xã hội chủ nghĩa” đi kèm trong hiến pháp mang tính chế tài đối với nhà nước. Cải cách đó vì vậy thuộc tầm cấp vĩ mô, trách nhiệm hiến định của Đảng, nhà nước, quốc hội, chính phủ, trước nhân dân; quyết định sự tín nhiệm của từng người dân (tổng hợp lại chính là chủ nhân đất nước) đối với chính thể (sẽ được bàn tới ở một chuyên đề khác).

*1.2- Mô hình doanh nghiệp

Tuy nhiên, nền kinh tế như một cơ thể sống, dù thuộc mô hình nào, cũng bao gồm các tế bào doanh nghiệp tương thích hợp thành. Nên vấn đề cải cách thể chế kinh tế không thể thành công, nếu chỉ mỗi ở cấp vĩ mô, mà trước và trên hết, có bột mới gột nên hồ, phải cải cách chính tế bào xây dựng nên nó tạm gọi là cải cách vi mô, không thể bê y nguyên doanh nghiệp hoạt động theo mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa xưa nay đặt vào mô hình kinh tế thị trường, hay chỉ cần bổ sung doanh nghiệp các thành phần khác là đủ; giải thích tại sao nước ta chưa được thế giới thừa nhận nền kinh tế thị trường, không phải do con số doanh nghiệp nhà nước mà do bản chất doanh nghiệp nhà nước không thay đổi, phải chịu chật vật trong các đàm phán hiệp định kinh tế thế giới.

Xuất phát từ mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa nhằm bảo đảm đảng và nhà nước điều hành kinh tế thông suốt theo chiều dọc từ trung ương tới điạ phương, theo chiều ngang bộ ngành, doanh nghiệp nhà nước mô hình trên được hành chính hoá trở thành một bộ phận của các cấp hành chính: cấp I (thuộc trung ương), cấp II (tỉnh thành), III (huyện), chịu sự điều khiển của chính quyền các cấp này, đóng vai trò công cụ nhà nước điều hành nền kinh tế vĩ mô. Từ đó, sự vận hành bên trong doanh nghiệp cũng phải tuân thủ nguyên tắc quản lý nhà nước (được dạy trong các giáo trình kinh tế cơ bản) như “thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế”, “tập trung dân chủ”, “kế hoạch hoá”, “phân phối theo lao động”…Các nguyên tắc vận hành đó tự động đặt vai trò, trách nhiệm quyết định kinh doanh lên đảng, nhà nước, công đoàn, đoàn thanh niên (gọi là “bộ tứ”). Thuật ngữ “nền kinh tế chỉ huy” không chỉ phản ảnh đặc trưng của mô hình mà cả tế bào doanh nghiệp tạo nên nó; kinh doanh bằng quyền lực nhà nước, chứ không phải bằng thị trường. Xét về mặt khoa học, doanh nghiệp vận hành như vậy hoàn toàn đúng với mô hình kinh tế quản lý tập trung đã được khoa học phân loại.

Tuy nhiên xét về lợi ích, doanh nghiệp vận hành như thế đã biến lãnh đạo doanh nghiệp trở thành công chức nhà nước vốn có trách nhiệm nhất nhất chấp hành chỉ thị cấp trên, nghị quyết đảng ủy;  bù lại, trách nhiệm pháp lý cá nhân đối với kết quả kinh doanh cùng các vi phạm pháp luật của doanh nghiệp, vốn đóng vai trò quyết định số phận tương lai sống còn của doanh nghiệp, họ được lợi  không phải gánh chịu hoàn toàn, ngoại trừ cá nhân họ vi phạm hình sự. (Một mô hình bù trừ như vậy được gọi là cân bằng, có thể tồn tại vĩnh cửu, chỉ thay đổi một khi vị trí cân bằng đó thay đổi bởi một cú hích nào đó). Vụ án Dương Chí Dũng là một điển hình, nếu không bị cáo buộc tham nhũng thì cũng chẳng mấy hề hấn dù kinh doanh ụ nổi gây thiệt hại cho Vinashin tới cả chục triệu đô la bởi nó được thông qua mọi cấp lãnh đạo liên quan; so với trường hợp tập đoàn Enron Mỹ phá sản, Jeffrey Skilling Tổng Giám đốc tại vị phải bồi thường tới 45 triệu đô la (gấp hơn 4 lần trị giá thiệt hại ụ nổi). Bộ máy nhân công doanh nghiệp cũng hưởng lương theo ngạch bậc như công chức từ cấp thấp lên cao, không tùy thuộc kết quả kinh doanh, mặc dù chính họ quyết định nó. Bù lại, hiện tượng “sáng cắp ô đi tối cắp ô về” chính là sản phẩm công chức  hoá hoạt động doanh nghiệp, chứ không hẳn họ thiếu năng lực hay đạo đức kinh doanh. Một ký túc xá đại học Đông Đức trước tái thống nhất chừng vài trăm sinh viên phải cần tới  bộ máy quản lý chừng chục nhân viên trực chia ca kíp, so với khi chuyển sang mô hình Tây Đức, chỉ còn trực đúng 1 người, hỏi lấy đâu ra hiệu qủa kinh tế? Ngược lại trong qúa trình kinh doanh hễ có cơ hội, làm nghề nào ăn nghề ấy, họ cũng không mấy ngần ngại hợp pháp hoá vụ lợi bằng các quyết định tập thể, chạy các cấp lãnh đạo ngang dọc, để bù cho đồng lương công chức nhà nước ngồi bàn giấy trả cho họ không thích ứng với công việc họ trực tiếp kinh doanh gắn liền với giá trị gia tăng. Đặc biệt khi chuyển đổi sang mô hình kinh tế thị trường như ở ta hay Trung Quốc, cho phép lãnh đạo sở hữu tư nhân tài sản, doanh nghiệp, cổ phần, thì ngay lập tức từ khởi thủy vụ lợi phát triển nhanh chóng thành tham nhũng, doanh nghiệp sân sau, rút ruột công trình, dự án vô bổ… được thế bùng phát không thể kiểm soát, chừng nào thể chế đối với doanh nghiệp nhà nước vẫn như xưa nay. 

Trong khi đó, xuất phát từ bản chất mô hình nhằm mục đích lợi nhuận, doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường hoàn toàn khác (ngoại trừ doanh nghiệp công ích), không thể đóng vai trò công cụ nhà nước điều hành kinh tế vĩ mô; công cụ đó là hành lang pháp lý và tài lực để thực hiện nó chứ không phải doanh nghiệp; từng doanh nghiệp chịu tác động của cả nền kinh tế, chứ mỗi mình nó rủi ro nay phất mai phá sản như Vinaschin không thể nói trước, làm sao đủ sức thay đổi cục diện để đóng vai trò công cụ điều hành. Nó cũng không có chức năng xã hội vốn thuộc nhà nước, được nó cung cấp nền tảng tài lực, trực tiếp như thuế lợi tức, thu nhập, môn bài… các khoản bảo hiểm xã hội phải đóng, gián tiếp như thuế giá trị gia tăng, bắc cầu như thuế thu nhập của nhân công doanh nghiệp. Nó là một pháp nhân độc lập, như bất kỳ doanh nghiệp tư nhân nào. Giám đốc đại diện chịu trách nhiệm cá nhân hoàn toàn trước pháp luật hiểu theo nghĩa bị kiện và thưa kiện khi xảy ra tranh chấp, làm việc và trả thù lao theo hợp đồng ký kết với đại diện chủ doanh nghiệp (nhà nước), tuân thủ điều lệ doanh nghiệp vốn đóng vai trò chế tài như hiến pháp đối với tổng thống, thủ tướng;  không chịu bất cứ sự chỉ huy kinh doanh của bất cứ cấp hành chính nào. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa doanh nghiệp là một vương quốc, giám đốc là vua; tương tự như tổng thống thủ tướng, doanh nghiệp bị giám sát bởi các cơ quan nhà nước  liên quan, do các văn bản lập pháp thích ứng chế tài. Cũng xuất phát từ chỗ sinh ra chỉ nhằm mục đich kinh doanh, doanh nghiệp cũng không chịu tác động chính trị hay xã hội, bị cấm thành lập trong doanh nghiệp bất kỳ đảng phái nào, hội đoàn gì; ngoài công đoàn để đối thoại với giới chủ (thậm chí cử người tham gia hội đồng quản trị) bởi chính họ cùng trực tiếp làm ra giá trị gia tăng, lơị nhuận doanh nghiệp. Ngạch lương nhân công được trả theo thoả thuận trong hợp đồng ký kết cá nhân hoặc tâp thể, nghĩa là phụ thuộc lợi nhuận, không phải trả lương như cho công chức do nhà nước ấn định thang bậc. Đồng lương đó tạo sức ép lên cả người trả lương lẫn người nhận phải kinh doanh có hiệu qủa nếu không sẽ bị phá sản, cả 2 đều thiệt.

Một khi mô hình doanh nghiệp nhà nước chẳng khác gì tư nhân đối với nền kinh tế, thì bài toán phân công lao động tối ưu là nhà nước tập trung quản trị đất nước, còn người dân chuyên làm kinh tế, (đến nhà tù người ta còn thuê tư nhân quản lý). Nguyên lý đó được Hiến pháp Đức áp dụng tại Điều 66, Thủ tướng và các bộ trưởng cấm tham gia lãnh đạo doanh nghiệp, không được tham gia hội đồng quản trị nếu không được quốc hội chấp thuận (lẽ dĩ nhiên điều khoản này còn hàm nghĩa khác nữa). 

(Xem tiếp phần II, Những thực tế đặt ra)
Read more…